Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2021

05 quy định về thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự 2015


Khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.”
Sau đây hãy cùng PN Law tìm hiểu 05 quy định về thời hiệu khởi kiện được quy định trong BLDS 2015:

1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 132 BLDS 2015)
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm đối với các trường hợp:
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện. Thời hiệu được tính kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn. Thời hiệu được tính từ ngày người bị nhầm lẫn biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn;
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Đối với trường hợp do bị lừa dối thời hiệu được tính từ ngày bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị lừa dối; Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, cưỡng bức, thời hiệu tính từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Thời hiệu được tính từ ngày Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Thời hiệu được tính từ ngày giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.
Đặc biệt, đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
2. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (Điều 429 BLDS 2015)
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
3. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 588 BLDS 2015)
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
4. Thời hiệu thừa kế (Điều 623 BLDS 2015)
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
- Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
5. Các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 155 BLDS 2015:
- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
- Trường hợp khác do luật quy định.
Tuy nhiên, cần lưu ý, khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”. Như vậy, chỉ trong trường hợp một hoặc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án thì Tòa án mới áp dụng quy định về thời hiệu.
Tóm lại, thời hiệu khởi kiện là vấn đề quan trọng cần được các chủ thể quan tâm bởi nếu vô tình không để ý, thời hạn đó kết thúc thì chủ thể đó có thể bị mất quyền khởi kiện. 

PN Law

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét