Thứ Tư, 19 tháng 5, 2021

TÍNH LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY NHƯ THẾ NÀO?

    Theo Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, việc áp dụng quy định về lãi suất trong hợp đồng vay (Trong bài viết này, hợp đồng vay được đề cập với nghĩa là hợp đồng vay tài sản không phải hợp đồng tín dụng) được hướng dẫn như sau:

    Đối với hợp đồng vay xác lập kể từ ngày 01-01-2017:

    1. Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất là 10% /năm (mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015) trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x 10% x (thời gian chậm trả nợ gốc)

    Ví dụ 1: Ngày 02/02/2018, A vay B số tiền là 100 triệu đồng (không có lãi suất) với thời hạn là 02 năm. Đến hạn thanh toán, B nhiều lần yêu cầu A hoàn trả số tiền 100 triệu đồng nhưng A không chịu trả. Ngày 02/02/2021, B nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc A hoàn trả số tiền 100 triệu đồng cùng với tiền lãi theo pháp luật. 

Trường hợp này, lãi suất được Tòa áp dụng là 10%. Thời điểm đến hạn trả nợ là ngày 02/02/2020. Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = 100 triệu x 10% x 1 (năm) = 10 triệu đồng.

    2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:

    a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm (mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015) tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định là 10%/năm (bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015) tại thời điểm trả nợ.

Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 10%/năm) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc)

    b) Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi là 10%/năm (theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015) tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = (nợ lãi chưa trả) x 10% x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc)

    c) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% mức lãi suất 20%/năm (mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm trả nợ gốc)

    Ví dụ 2: Ngày 02/02/2018, A vay B số tiền là 100 triệu đồng (với lãi suất 15%/năm) với thời hạn là 02 năm. Đến hạn thanh toán, B nhiều lần yêu cầu A hoàn trả số tiền 100 triệu đồng nhưng A không chịu trả. Ngày 02/02/2021, B nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc A hoàn trả số tiền 100 triệu đồng cùng với tiền lãi theo pháp luật. Thời gian chậm trả từ thời điểm 02/02/2020.

Trường hợp này, số tiền lãi mà B phải trả cho A bao gồm:

- Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả: 100 triệu x 15% x 2 (năm) = 30 triệu

- Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = 30 triệu x 10% x 1 năm = 3 triệu

- Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = 100 triệu x 150% x 15% x 1 (năm)= 22,5 triệu.

Như vậy, tiền lãi B phải trả là 30 + 3 +22,5 triệu = 55,5 triệu.

PN Law

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét